HÃY THEO
THẦY...
Trần Duy Nhiên
Từ cửa Thiên Đàng, Đức Gioan
Phaolô II tiếp tục ban phép lành cho dân chúng:
đấy là hình ảnh Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, chủ tế thánh
lễ, đã để lại trong lòng những người qui tụ trên quảng
trường Thánh Phêrô để dự thánh lễ an táng người bạn của
Ngài là Đức Gioan Phaolô II. Ngài đã nhiều lần tỏ ra xúc
động. Mười ba lần những tiếng vỗ tay hoan hô đã ngắt
khoảng bài giảng của Ngài. Đức Hồng Y trình bày:
“Đức thánh Cha đã giải thích cho chúng ta thấy rằng Mầu
Nhiệm Phục Sinh là Mầu Nhiệm của lòng thương xót Thiên
Chúa.”
Trước bàn thờ là một chiếc quan
tài bằng gỗ sồi đơn sơ, không chạm trổ, không kiểu cách:
chỉ khắc một cây thánh giá và chữ
“M”
tượng trưng cho Maria
đứng nép mình dưới thánh giá. Chung quanh quan tài không
có lấy một bó hoa, không đèn nến: chỉ có một cây nến Phục
Sinh, thế thôi. Và đấy là nơi gửi gắm hình hài của con
người vĩ đại nhất thế kỷ.
Cuối bài giảng, Đức Hồng Y
Ratzinger nói: “Tất cả
chúng ta không thể nào quên được hình ảnh Đức Thánh Cha
(tiếng vỗ tay), vào ngày
Chúa Nhật Phục Sinh cuối cùng của cuộc đời ngài, trong
hình hài đau đớn, ngài đã xuất hiện một lần nữa ở cửa sổ
dinh tông tòa và ban phép lành Urbi et Orbi lần cuối cùng.
Chúng ta có thể chắc chắn rằng vị Cha chung yêu dấu của
chúng ta (vỗ tay)
hiện đang ở cửa sổ nhà Chúa Cha,
vẫn nhìn và ban phép lành cho chúng ta
(vỗ tay).
Vâng, kính thưa Đức Thánh Cha,
xin ban phép lành cho chúng con. Chúng con phó dân linh
hồn Cha cho Mẹ Thiên Chúa, Mẹ của Cha, Đấng đã từng dẫn
dắt cha hằng ngày và giờ đây sẽ đưa Cha đến vinh quang đời
đời của Con Mẹ, Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Amen.”
(vỗ tay).
Đức Hồng Y đã quảng diễn cuộc
gặp gỡ giữa Chúa Kitô Phục Sinh và thánh Phêrô trong Phúc
Âm thánh Gioan và ba lời Chúa mời gọi Karol Wojtyla làm
linh mục, làm giám mục, làm giáo hoàng.
“Chúa Kitô Phục Sinh nói với
Phêrô ‘Hãy theo Thầy.’ Đấy là lời cuối cùng mà Ngài
nói với vị môn đệ này, người mà Ngài chọn để chăn dắt
chiên Ngài. ‘Hãy theo Thầy.’ Lời nói nền tảng này
của Chúa Kitô có thể xem là chìa khóa để hiểu được sứ điệp
toát ra từ cuộc đời Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II kính
yêu của chúng ta, mà hôm nay chúng ta đặt hình hài ngài
vào lòng đất như hạt giống cho đời sống vĩnh cửu; với cõi
lòng tràn ngập buồn đau, nhưng đồng thời với một niềm hy
vọng vui tươi và lòng biết ơn sâu sắc.”
Tiếng vỗ tay reo hò vang dậy
khắp quảng trường khi Đức Hồng Y chào mừng ‘đặc
biệt giới trẻ , mà Đức Gioan Phaolô II thường xem là tương
lai và hy vọng của Giáo Hội’.
Ngài nhắc lại lời kêu gọi đầu
tiên Chúa gửi đến Karol Wojtyla:
“Hãy theo Thầy. Từ ngày còn là sinh viên, Karol Wojtyla
từng say mê văn chương, kịch nghệ, thi ca. Khi làm việc
trong một xưởng hóa chất, trong bầu không khí đe dọa và
khủng bố của Quốc Xã, ngài đã nghe tiếng gọi của Chúa: Hãy
theo Thầy! Trong hoàn cảnh thật đặc biệt này, ngài bắt đầu
đọc các sách triết học và thần học, sau đó nhập vào chủng
viện chui do Đức Hồng Y Sapieha lập, để rồi sau chiến
tranh, ngài hoàn tất học trình của mình tại phân khoa thần
học thuộc đại học Jagellon ở Krakow. Trong các thư tín gửi
linh mục và trong các sách hồi ký, ngài thường nhắc đến ơn
gọi linh mục, mà ngài lãnh nhận ngày 1 tháng 11 năm 1946.”
Tiếp theo là lời kêu gọi thứ
hai. Đức Hồng Y Ratzinger tóm lược như sau:
“Hãy theo Thầy! Tháng 07 năm
1958 mở đầu một chặng cho Karol Wojtyla trên con đường
cùng đi với Chúa cùng đi theo Chúa. Theo thông lệ, vị linh
mục trẻ vẫn đi cắm trại với một nhóm thanh niên say mê
chèo xuồng trên hồ Masuri. Trong khi đó, ngài mang trong
mình bức thư mời trình diện với giám sĩ Ba Lan, Đức Hồng Y
Wyszinski, và ngài đã đoán được lý do của buổi gặp gỡ này:
ngài được phong giám mục phó giáo phận Krakow. Bỏ lại đàng
sau chiếc ghế giáo sư, để lại sự hiệp thông phấn khởi với
giới trẻ, để lại cuộc chiến đấu trí thức để tìm hiểu và
diễn giảng mầu nhiệm con người, để trình bày cho thế giới
hôm nay chân tính Kitô giáo – tất cả những điều này có vẻ
như đòi hỏi ngài phải đánh mất bản thân mình, đánh mất cái
căn tính tự nhiên của vị linh mục trẻ này.”
Đức Hồng Y gợi lại cuộc đời hoàn
toàn dấn thân này: “Hãy
theo Thầy! Karol Wojtyla đã vâng theo, khi nghe tiếng gọi
của Chúa Kitô qua lời mời của Giáo Hội. Và về sau, ngài
hiểu rằng lời sau đây của Chúa đúng đến mức độ nào: “Ai
tìm kiếm sự sống mình sẽ đánh mất nó, và ai đánh mất mạng
sống thì sẽ giữ vững được”. Đức Giáo Hoàng của chúng ta –
tất cả chúng ta đều biết – chưa bao giờ muốn khư khư
bảo vệ mạng sống của mình, giữ riêng cho mình; ngài muốn
tận hiến không giới hạn, cho đến giây phút cuối cùng, tận
hiến cho Chúa Kitô và qua đó cũng tận hiến cho chúng ta!”
Sau đó ngày nhắc lại ngày được
bầu làm Giáo Hoàng: “Hãy
theo Thầy! Tháng 10 năm 1978, hồng y Wojtyla lại nghe
tiếng gọi của Chúa. Thế là cuộc đối thoại với thánh Phêrô
được lặp lại trong bài Phúc Âm của thánh lễ thụ phong:
‘Simôn, con Gioana, anh yêu mến Thầy không? Hãy chăn dắt
chiên Thầy!’. Khi Chúa hỏi: ‘Karol, anh có yêu mến Thầy
không?’ vị tổng giám mục Krakow trả lời từ nơi sâu thẳm
của lòng mình: ‘Lạy Chúa, Chúa biết mọi sự: Chúa biết rằng
con yêu mến Chúa!’. Tình yêu đối với Chúa Kitô chính là
sức mạnh nền tảng của Đức Thánh Cha yêu quí của chúng ta;
những ai từng thấy ngài cầu nguyện, những ai từng nghe
ngài rao giảng, điều biết rõ điều đó. Như vậy, nhờ cắm rễ
sâu xa vào Chúa Kitô mà ngài đã đủ sức gánh vác một trách
vụ vượt quá sức của một con người: làm mục tử cho đàn
chiên Chúa, cho Giáo Hội hoàn vũ.”…
“Hãy theo Thầy! Khi trao phó cho
Phêrô trách vụ chăm sóc đàn chiên, thì đồng thời Ngài cũng
loan báo cho ông con đường tử đạo.... Trong giai đoạn đầu
triều đại giáo hoàng, Đức Thánh Cha, lúc bấy giờ còn trẻ
và đầy sức sống, đã theo sự hướng dẫn của Chúa Kitô mà đi
đến tận cùng trái đất. Nhưng càng ngày, ngài càng hiệp
thông mật thiết hơn với cuộc khổ nạn của Chúa; càng ngày
ngài càng hiểu rõ hơn chân lý của những lời sau: ‘một ai
khác sẽ thắt lưng cho anh...’ Quả thật, trong sự hiệp
thông cùng với Chúa Kitô đau khổ, ngài đã không mệt mỏi
loan báo Tin Mừng, một mầu nhiệm Tình Yêu cho đi đến
cùng.”
Đức Giáo Hoàng đã ra đi vào
những giờ kinh đầu tiên của ngày chúa nhật của Lòng Thương
Xót. Đức Hồng Y Ratzinger đã nhắc lại đường hướng của trọn
triều đại giáo hoàng của Đức Gioan-Phaolô II: ấy là một
thời gian tôi luyện tình yêu:
“Đức Thánh Cha đã giải thích cho chúng ta thấy rằng: Mầu
Nhiệm Phục Sinh là Mầu Nhiệm của Lòng Thương Xót của Thiên
Chúa. Ngài viết trong tác phẩm cuối cùng của mình rằng
giới hạn của sự dự dữ chính là lòng Thương Xót của Thiên
Chúa.”
Nhắc lại cuộc ám sát ngài, Đức
Hồng Y khẳng định: “Khi
chịu đau khổ vì chúng ta, Chúa Kitô đã gán một ý nghĩa mới
cho đau khổ, Ngài đã đưa vào đó một chiều kích mới, một
giá trị mới: đó là chiều kích của Tình Yêu... Chính sự đau
khổ đã đốt sự dữ cháy ra tro bằng ngọn lữa tình yêu và qua
đó rút ra từ tội lỗi những đóa hoa lành thánh và đa
dạng.... Theo chiều hướng này, Đức Thánh Cha đã hiệp thông
đau khổ với Chúa Kitô và vì thế sự điệp về sự đau khổ và
sự im lặng của ngài trở nên hùng biện và phong phú đến như
thế!”
Đức Hồng Y không thể nào không
nhắc đến Mẹ Thiên Chúa:
“Lòng Thương Xót của Thiên Chúa: Đức Thánh Cha đã nhìn
được phản ảnh của lòng Thương Xót ấy nơi Mẹ Thiên Chúa. Vì
mồ côi mẹ từ lúc thiếu thời, nên Ngài đã yêu mến Mẹ Thiên
Chúa tha thiết hơn nữa. Ngài nghe rõ mồn một lời Chúa Kitô
chịu đóng đinh như gửi cho riêng Ngài: ‘Này là Mẹ anh!’.
Và giồng như Người Môn Đệ Chúa Yêu, Ngài đã đón lấy Mẹ nơi
sâu thẳm của lòng mình: Totus tuus. Và từ người Mẹ ấy,
Ngài đã học cách tuân phục thánh ý Chúa Kitô.”
Bài giảng của Đức Hồng Y Joseph
Ratzinger trong thánh lễ an táng Đức Thánh Cha
Gioan-Phaolô II đã được đón nhận bằng nhiều tràng vỗ tay
hoan hô thật dài: đấy là lời cảm tạ của dân chúng đối với
một bài tưởng niệm sâu sắc, đầy xúc động, đồng cảm với mọi
người, cũng như đối với vị Cha chung mà Đức Hồng Y đang
tuyên dương trước mặt con cái●
LỜI CẦU NGUYỆN ĐẦU TIÊN
của
ĐỨc Gioan-Phaolô II
Của Triều Đại Giáo Hoàng
“Lạy Chúa Kitô,
xin làm cho con trở nên và luôn mãi là người tôi tớ cho
quyền năng duy nhất của Chúa, người tôi tớ cho quyền năng
ngọt ngào của Ngài, người tôi tớ của quyền năng Ngài, một
quyền năng không bao giờ suy suyển. Xin biến con thành
người tôi tớ. Và đích thật là người tôi tớ của mọi tôi tớ
Chúa.”
(L’Osservatore Romano
11-2-78)
Trở về Muc Lục